Động lực chèo lái hành vi

Đã hết thời của Củ cà rốt và cây gậy. Ngày nay 3 yếu tố tạo ra động lực thực sự: + Tính Tự chủ + Sự làm chủ + Mục đích
động lực chèo lái hành viPHẦN THƯỞNG phát huy tác dụng với những nhiệm vụ có tính thuật toán, những nhiệm vụ dựa trên cơ sở áp dụng công thức sẵn có để tìm ra kết luận logic. Nhưng với những việc có tính sáng tạo, đòi hỏi kỹ năng xử lý vấn đề linh hoạt, tư duy đột phá hay tầm hiểu biết rộng thì phần thưởng trở thành nguy cơ đáng sợ

* Phương pháp tiếp cận mới:
1. Tính tự chủ - là khát khao được định hướng cho cuộc đời mình
2. Sự làm chủ - là thôi thúc được ngày càng trở nên tốt hơn, giỏi hơn ở lĩnh vực nào đó có ý nghĩa với bản thân.
3. Mục đích - là mong mỏi được làm những gì để phục vụ cho những mục đích còn cao cả hơn chính bản thân chúng ta

* Loại I và Loại X
- Loại I (Intrinsic-nội tại): động lực tự thân. Con người tự định hướng cuộc sống mình, học hỏi, sáng tạo
- Loại X (Extrinsic-ngoại sinh): động lực ngoại vi, tập trung vào phần thưởng có điều kiện (Nếu ... thì)

* Điều tra về tính tự chủ
Giấu tên người trả lời. Thang điểm từ 0 (gần như không có) đến 10 (rất nhiều)
1. Bạn có mức tự chủ bao nhiêu trong các công việc - tức nhiệm vụ chính của bạn và những gì bạn làm trong ngày?
2. Bạn có mức tự chủ bao nhiêu với thời gian tại nơi làm việc. Ví dụ bạn đến và rời công ty, và bạn phân bổ thời gian mỗi ngày như thế nào?
3. Bạn có mức tự chủ bao nhiêu đối với nhóm làm việc của mình - tức khả năng bạn có thể tự ý chọn những người mình sẽ cộng tác ra sao?
4. Bạn có mức tự chủ bao nhiêu đối với chuyên môn của mình tại nơi làm việc - tức cách bạn thực hiện công việc ra sao?

* Ba bước để từ bỏ quyền kiểm soát
Ông chủ loại X đam mê kiểm soát. Ông chủ loại I thì từ bỏ quyền kiểm soát.
1. Để mọi người cùng tham gia vào quá trình đặt mục tiêu. Bạn thích đặt mục tiêu hơn là để người khác áp đặt. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy con người tham gia vào công việc nhiều hơn nếu họ thực hiện các mục tiêu do chính mình góp công xây dựng nên. Người ta thường đặt mục tiêu cao hơn so với những mục tiêu được người khác giao phó thực hiện.
2. Sử dụng ngôn ngữ không mang tính chất kiểm soát. Thay những từ "phải" hay "nên" bằng "hãy nghĩ tới" hoặc "hãy cân nhắc"
3. Dành ra một chút thời giờ. Bạn có thể triệu tập cuộc họp, hoặc để nhân viên tự tìm đến mình, hoặc dành 1 khoảng thời gian cố định trong tuần hay trong tháng để đón tiếp bất kỳ nhân viên nào tới nói về bất cứ vấn đề gì.

* Chơi trò "Dù sao thì đó là mục đích của ai mới được chứ"
  • Tập trung nhóm, phòng hoặc toàn công ty lại.
  • Đưa mỗi người 1 tờ giấy note 8x12 cm (có thể dùng điện thoại để gửi mẫu ẩn danh). Không cần ghi tên. Có thể ghi là "Không biết"
  • Yêu cầu mọi người viết 1 câu trả lời cho câu hỏi: "Mục đích của công ty (hay tổ chức) của chúng ta là gì".
  • Bạn tổng hợp câu trả lời và đọc to lên.
Một câu hỏi đơn giản có thể hé mở đôi điều về linh hồn công ty của bạn. Bạn có dịp đánh giá lại văn hoá, sự phù hợp và nhiệm vụ tại công ty mình. Nếu các nhân viên không biết tại sao họ lại làm những việc họ đang làm, thì làm sao bạn lại mong họ sẽ có động lực để làm các việc đó?

* Bài kiểm tra về đại từ của Reich (cựu bộ trưởng lao động Mỹ Robert B. Reich)
Khi nhân viên nói về công ty dùng từ "Họ" cho thấy thái độ bất tham gia vào công ty (có thể chí ít là thế). Trong khi, từ "Chúng tôi" cho thấy nhân viên cảm thấy họ là một phần của điều gì đó lớn lao và có ý nghĩa.
Bạn nên lắng nghe nhân viên tán gẫu trong hoặc ngoài công ty. Ai lại không muốn được tự chủ, làm chủ và có mục đích. Điều quan trọng là "Chúng tôi" thì có thể đạt được điều đó, còn "Họ" thì không.

* Thiết kế cho động lực tự thân (Clay Shirky)
- Tạo ra một môi trường khiến mọi người cảm thấy thoải mái khi tham gia vào đó.
- Trao cho người sử dụng website quyền tự chủ.
- Để mở website cho càng nhiều người tiếp cận càng tốt
- Những gì quan trọng trong thế giới ảo có tầm quan trọng không kém trong thế giới thực. Hãy tự hỏi: Môi trường làm việc của bạn thúc đẩy hay cản trở quá trình tự chủ, làm chủ và lên mục tiêu như thế nào?

* Hỗ trợ Goldilocks cho các nhóm làm việc
- Những công việc không quá dễ cũng không quá khó. Chúng cần thiết để giúp nhân viên đạt tới trạng thái "tập trung sâu" và đạt tới sự làm chủ.
- Hãy bắt đầu với một nhóm đa dạng, để có thể làm giàu cho ý tưởng của nhau
- Để nhóm của bạn trở thành khu vực "không cạnh tranh". Hãy bắt đầu với "hợp tác" và "hỗ trợ"
- Thử chuyển giao nhiệm vụ: dành cho những người đã chán công việc hiện tại, để anh ta huấn luyện người khác làm thay. Sau đó thử để anh ta đảm nhận 1 nhiệm vụ của thành viên khác.
Thổi sinh khi vào công việc bằng mục tiêu, đừng khích lệ bằng phần thưởng
 
* Ngày FedEx: là khoảng thời gian nhân viên có thể làm những nhiệm vụ họ thích nhằm khơi dậy tính sáng tạo trong họ. Bạn hãy cung cấp cho họ nguồn lực cần thiết. Nguyên tắc cho trò chơi này là: Ngày hôm sau những người tham gia phải đem lại cho công ty một điều gì đó hữu dụng - chẳng hạn như một ý tưởng mới, một mẫu sản phẩm, một quy trình hoạt động nội bộ hiệu quả hơn... Các công ty loại I biết điều mà các công ty loại X hiếm khi hiểu được: thách thức thực sự còn lâu mới có được sức mạnh khách lệ như niềm vui có kiểm soát.

* Ý nghĩa thiền môn của sự đền bù: tưởng thưởng người khác theo cách của loại I
Tiền lương, thưởng và các lợi ích khác của 1 người càng nhiều thì chùng càng cản trở sự sáng tạo và khiến kết quả làm việc của họ kém đi
Các công ty hoạt động hiệu quả thường đền bù công cho người lao động bằng vật chất và theo những cách thức theo đó họ gần như không nghĩ gì thời khoản đền bù, và thay vào đó, họ sẽ chỉ tập trung vào công việc. Ba phương pháp chính:
1. Bảo đảm công bằng nội bộ và ngoại vi
Công bằng nội bộ là trả lương cho nhân viên tương đương các đồng nghiệp khác làm cùng việc đó trong công ty
Công bằng ngoại vi là trả lương cho nhân viên tương đương mức lương của những người khác làm việc như họ ở công ty khác.
2. Trả cao hơn mức trung bình
Năm 1980, George Akerlof (đoạt giải Nobel kinh tế) và vợ Janet Yellen phát hiện: trả lương cho người giỏi nhiều hơn so với mức thị trường yêu cầu có thể thu hút thêm nhiều nhân tài, giảm tỉ lệ nghỉ việc đồng thời tăng cường năng suất và ý chí làm việc.
Mức lương cao hơn có thể làm giảm chi phí cho công ty. Do có thể bỏ qua các phần thưởng có điều kiện, xoá đi những băn khoăn về tình trạng thiếu công bằng, và giúp bạn gạt bỏ vấn đề lương sang một bên. Giúp nhân viên tập trung vào công việc. Các nhà kinh tế học cũng chỉ ra việc trao mức lương cơ bản cao cho nhân viên sẽ giúp họ làm việc hiệu quả hơn đồng thời nâng cao sự tận tâm của họ với công ty hơn so với việc đưa ra 1 cơ chế bổng lộc hậu hĩnh.
3. Nếu sử dụng Metric đánh giá chất lượng công việc, hãy tạo ra một Metric đa dạng, phù hợp và nhiều thách thức.
 
9 cách tạo ra những đứa trẻ loại I, ở trường và cả ở nhà, chúng ta phải giúp chúng hướng đến sự tự chủ, làm chủ và có mục tiêu:
1. Áp dụng bài kiểm tra loại I: gồm 3 phần cho bài tập về nhà: 
* Mình có cho học sinh quyền tự chủ gì trong việc làm bài tập này như thế nào và vào khi nào không?
* Bài tập này có nâng cao mức độ làm chủ kiến thức của các em bằng cách đưa ra 1 nhiệm vụ mới mẻ và thú vị (so với việc làm lại máy móc những gì đã dạy ở trên lớp) không?
* Học sinh của mình có hiểu mục đích của bài tập này không? Tức là chúng có thể biết rằng việc làm thêm bài này sẽ đóng góp vào hoạt động lớn hơn mà cả lớp cùng tham gia không?
Nếu câu trả lời cho bất kỳ câu hỏi trên là không, thì các vị có thể thay đổi bài tập theo hình thức khác không?
Còn các vị phụ huynh có kiểm tra các bài tập về nhà của trẻ thường xuyên để xem liệu chúng có tác dụng nâng cao tính phục tùng hay sự tham gia tích cực của trẻ không?
Bạn cố gắng nỗ lực và tư duy để biến bài tập về nhà thành học tập ở nhà.
2. Tổ chức ngày FedEx: Hãy dành ra 1 ngày học ở trường (hay 1 ngày nghỉ ở của gia đình) để yêu cầu lũ trẻ đưa ra 1 vấn đề phải giải quyết hay 1 kế hoạch phải thực hiện. Sau đó để chúng tự làm. Hôm sau yêu cầu chúng báo cáo lại với lớp hoặc gia đình về những phát hiện và trải nghiệm của mình. Phần thưởng dành cho chúng là cơ hội chia sẻ những gì mình sáng tạo nên và những điều chúng học hỏi được trong suốt quá trình tự trải nghiệm đó.
3. Thử dùng các bản báo cáo học tập tự làm: Các học sinh loại I hiểu rằng cách tuyệt vời để nhận được thông tin phản hồi là tự đánh giá tiến bộ của mình.
* Đầu kỳ hãy yêu cầu học sinh liệt kê ra các mục tiêu học tập hàng đầu của mình
* Tới cuối kỳ, bảo chúng lập bản báo cáo với 1 hoặc 2 đoạn đánh giá tiến bộ. Chúng thành công ở lĩnh vực học tập nào? Còn thiếu sót chỗ nào? Còn phải học thêm những gì?
* Sau khi học sinh hoàn thành bản tự báo cáo, hãy đưa chúng xem bản báo cáo của thầy cô. Rồi dựa trên sự so sánh 2 bản, hãy bắt đầu thảo luận với chúng về kết quả chúng đã đạt được trên con đường tiến tới sự làm chủ tri thức. Phụ huynh lưu ý: nếu giáo viên của con bạn không cho học sinh làm bản tự báo cáo học tập, các bạn có thể tự thực hiện hoạt động đó tại nhà. Đó là 1 cách để ngăn không cho trường học làm thay đổi môi trường tự nhiên của con bạn và biến chúng từ người loại I sang loại X
4. Cho trẻ tiền tiêu vặt và giao việc nhà cho chúng - Nhưng đừng kết hợp cả hai làm một
- Cho tiền tiêu vặt để: trẻ có tiền riêng, và tự quyết định nên tiêu tiền hay tiết kiệm tiền, đây là 1 biện pháp đo lường tính tự chủ của trẻ và dạy trẻ trách nhiệm với đồng tiền.
- Giao trẻ việc nhà để trẻ thấy rằng gia đình được xây dựng trên trách nhiệm chung, và rằng các thành viên trong gia đình cần phải giúp đỡ lẫn nhau.
- Khi kết hợp cả 2 việc trên làm 1 các bậc phụ huynh đã biến tiền thành 1 phần thưởng có điều kiện. Điều này gửi tới trẻ 1 thông điệp rõ ràng (sai lầm): Nếu không được trả công, không có đứa trẻ biết tự trọng nào lại sẵn lòng làm những việc như dọn bàn, đổ rác hay dọn giường ngủ của chính mình. Nó biến 1 nghĩa vụ trong gia đình thành giao dịch thương mại - và nó dạy cho trẻ nhỏ thấy rằng lý do duy nhất để làm những công việc không mấy thú vị cho gia đình mình là để đổi lấy tiền công.
5. Khen ngợi... đúng cách
Nghiên cứu xuất sắc của nhà tâm lý học Carol Dweck, cũng như của nhiều người khác trong lĩnh vực này, đã đưa ra 1 danh sách những việc cần làm nhằm khen ngợi trẻ  sao cho có thể khuyến khích hành vi loại I ở chúng:
* Khen ngợi nỗ lực và cách làm, không khen trí thông minh của chúng. Nghiên cứu của Dweck chỉ ra những trẻ được khen vì "thông minh" thường tin rằng mỗi thử thách chúng gặp là 1 bài kiểm tra xem chúng có thật đúng là thông minh hay không. Vì thế, chúng sẽ tránh không để người khác biết là mình không biết, nên chúng không muốn nhận những thử thách mới và chọn con đường đi dễ nhất cho mình. Ngược lại, những trẻ hiểu rằng nỗ lực và làm việc chăm chỉ là con đường dẫn tới sự làm chủ và phát triển thường tỏ ra sẵn sàng đón nhận các thử thách mới và khó khăn hơn.
* Đưa ra lời khen cụ thể: hãy nói cho chúng biết cụ thể những gì chúng đã làm được có ích thay vì những lời khen chung chung
* Khen riêng. Khen trực tiếp
* Chỉ khen ngợi khi có lý do đáng để khen. Hãy chân thành khen hoặc giữ im lặng, đừng giả tạo. Khen thái quá chúng sẽ thấy lời khen ko chân thực và chúng không xứng đáng, đồng thời sẽ trở thành phiên bản khác của phần thưởng có điều kiện, khiến cho việc nhận lời khen trở thành mục tiêu của trẻ, chứ không phải là hướng tới sự làm chủ tri thức.
6. Giúp trẻ nhìn cây thấy rừng. Giúp chúng có thể trả lời các câu hỏi: Tại sao mình lại học cái này? Nó có mức độ phù hợp thế nào với thế giới mình đang sống? Giúp chúng thấy được bối cảnh rộng hơn. Cho chúng thực hành kiến thức đã học. Hãy nghĩ về: đọc, viết, số học... và sự phù hợp
7. Nghiên cứu về 5 trường loại I (Mỹ)
* Trường Bức Tranh Lớn
(www.bigpicture.org): là 1 tổ chức phi lợi nhuận với hơn 60 trường học trên khắp nước Mỹ; điểm chung của họ là học sinh tự có trách nhiệm với sự nghiệp học tập của bản thân. Các học sinh của Big Picture học kiến thức cơ bản. Sử dụng kiến thức đó và học hỏi thêm các kỹ năng thông qua công việc thực tế trong cộng đồng dưới sự hướng dẫn của 1 giáo viên có kinh nghiệm. Học sinh được đánh giá dựa trên kết quả công việc, sự thể hiện của cá nhân, nỗ lực, thái độ và hành vi ứng xử nơi làm việc. Nhờ phương pháp này hơn 95% học sinh ở đây tốt nghiệp vẫn học tiếp đại học.
* Trường Thung Lũng Sudbury (www.sudval.org). Trẻ nhỏ được trao quyền tự chủ thực sự. Xuất phát từ quan điểm rằng bản chất con người là sự hiếu kỳ và rằng cách học tập tốt nhất là khi nó được chính học viên khởi tạo và theo đuổi. Học sinh được trao toàn quyền kiểm soát đối với môn học, thời gian và cách học. Trách nhiệm của giáo viên là giúp các em thực hiện điều đó. Sự phục tùng không nằm trong danh sách của họ.
* Trường vụng về: Một nơi giống phòng thí nghiệm hơn trường học, dành cho trẻ từ 7-17 tuổi chơi đùa cùng những vật dụng thú vị và tạo ra những thứ tuyệt vời (hào rào làm việc, xe máy, robot chải răng, đường sắt dùng cho tàu trượt, các cây cầu bằng túi nilong nhưng vẫn rất chắc chắn đủ để khách bộ hành bước qua. Có thể cho trẻ học biết về "Năm điều nguy hiểm nên để con trẻ làm". Bạn hãy bỏ ra chín phút nghe chương trình nói chuyện TED năm 2007 của Tulley về chủ đề đó. Sau đó, hãy đưa cho con mình 1 con dao bỏ túi, một số công cụ hỗ trợ sức mạnh, và 1 hộp diêm - và rồi để chúng tự xoay sở. (www.tinkeringschool.com)
* Trường cộng đồng Puget Sound. Trao quyền tự chủ cho học viên làm thay đổi hoàn toàn phương pháp "cỡ vừa cho tất cả" của các trường truyền thống. Mỗi học viên có 1 cố vấn, huấn luyện viên riêng cho học viên, giúp học viên vạch ra các mục tiêu học tập cho mình. Trường học này là sự kết hợp giữa giờ học, các kế hoạch học tập độc lập do học viên tạo ra cùng với hoạt động phục vụ cộng đồng do học viên xây dựng. Cho họ cảm nhận rõ việc học tập của mình mang 1 ý nghĩa đời thực. Thay vì theo đuổi điểm số, các em tiếp nhận những thông tin phản hồi thường xuyên và không chính thức từ cố vấn, bạn học và môi trường. (www.pscs.org)
* Hệ thống trường Montessori. Chủ yếu là trường mầm non và mẫu giáo. Giáo viên chỉ đóng vai trò người quan sát và hỗ trợ quá trình tự học tập chứ không phải người chỉ huy; và trẻ em thường tự nhiên có những trải nghiệm tập trung cao độ mà người lớn không nên làm gián đoạn. (www.montessori-ami.org)
Ngoài ra có 2 phương pháp khác thúc đẩy hành vi loại I: triết lý Reggio Emilia về giáo dục trẻ nhỏ và Hệ thống trường Waldof
8. Học 1 buổi của những người không đi học. Phong trào "không đi học" - tức các gia đình không áp dụng chương trình giảng dạy chính quy; thay vào đó, họ để con cái tự khám phá và tìm hiểu những gì hấp dẫn chúng. Những người không đi học đi tiên phong trong việc áp dụng phương pháp giáo dục loại I. Họ để con em mình tự quyết định học cái gì và học như thế nào. Họ khích lệ sự làm chủ tri thức bằng cách cho phép trẻ dành thời gian học môn học chúng thích trong bao lâu cũng được, và muốn tìm hiểu sâu tới đâu cũng được. Nếu bạn thấy "không đi học" không phù hợp với bạn và con cái bạn, thì bạn vẫn có thể tham khảo học hỏi thêm những cái hay với cuốn sách Dìm chúng ta xuống (John Taylor Gatto).
Tạp chí giáo dục tại nhà và trang web của họ homeedmag.com, unschooling.com, sandratodd.com/unschooling
9. Biến học sinh thành giáo viên - Cách tốt nhất để nắm vững 1 kiến thức nào đó. Hãy giao cho mỗi học sinh 1 phần bài giảng, và rồi để chúng lần lượt đứng lên dạy trước lớp những gì chúng học được. Sau khi thấy chúng đã thuần thục, bạn có thể mở rộng đối tượng khán giả bằng cách mời các lớp khác, giáo viên, phụ huynh và ban quản lý nhà trường tới ngồi nghe chúng giảng. Mỗi đầu học kỳ, hãy hỏi học sinh về niềm thích thú và điểm mạnh của các em. Bạn giữ danh sách các vị "chuyên gia" này, rồi trong suốt học kỳ, hãy nhờ các em giúp đỡ. Một lớp học gồm các giáo viên chính là một lớp học gồm những học viên.

Danh sách các quyển sách loại I nên đọc:
1. Finite and Infinite games: a vision of life as play and possibility - James P. Carse
Trò chơi hữu hạn là có người thắng kẻ thua và mục đích là giành chiến thắng. Còn trò chơi vô hạn không có ai thắng, không có ai thua, mà cũng không có hồi kết; mục đích trong trò chơi này là duy trì cuộc chơi - Một trò chơi có giá trị hơn những trò được-mất mà chúng ta vẫn quen chơi tại nơi làm việc và trong các mối quan hệ
Tư duy Loại I: "Người chơi hữu hạn chơi trong phạm vi ranh giới; người chơi vô hạn chơi cùng với các ranh giới"
2. Talent is overated: what really separates world-class performers from everybody else - Geoff Colvin (Giải mã tài năng)
Luyện tập, luyện tập, luyện tập. Luyện tập có chủ đích. Đòi hỏi nhiều về trí óc, tuy thường chúng không mấy thú vị nhưng mang lại hiệu quả cao.
Tư duy loại I: "Nếu bạn đặt mục tiêu trở thành 1 chuyên gia trong lĩnh vực đang hoạt động, chắc chắn bạn sẽ ngay lập tức bắt tay vào làm tất cả mọi việc mà hiện giờ bạn chưa làm".
3. Flow: The Psychology of optimal experience - Mihaly Csikszentmihalyi (Tập trung sâu: tâm lý học về trải nghiệm tối ưu)
Những khoảnh khắc thăng hoa khi chúng ta cảm thấy mình có quyền kiểm soát, có mục đích và đi đúng hướng. Chúng ta có thể biến những công việc kém thú vị nhất thành những thử thách thú vị và quý giá như thế nào.
Tư duy loại I: "Đối lập với những gì chúng ta vẫn nghĩ... những khoảnh khắc tốt đẹp nhất trong cuộc sống chúng ta lại không phải những khoảnh khắc bị động, tiếp thu và thư giãn - tuy rằng đó cũng là những trải nghiệm thú vị nếu chúng ta đã phải làm việc chăm chỉ để đạt được chúng. Thời khắc tốt đẹp nhất thường xảy ra khi thể xác và tâm trí một người bị kéo căng tới hết giới hạn cho phép khi người đó nỗ lực như vậy nhằm đạt được điều gì đó tuy khó khăn nhưng xứng đáng".
Ba quyền sách khác của Csikszentmihalyi:
+ Tìm kiếm trạng thái tập trung sâu: Tâm lý học của sự chủ động tham gia vào cuộc sống hàng ngày;
+ Sáng tạo: Tập trung sâu và tâm lý học của sự phát minh và phát hiện;
+ Trên cả sự nhàm chán và lo âu: Trải nghiệm trạng thái tập trung sâu trong công việc và vui chơi.
4. Why we do what we do: understanding self motivation - Edward L. Deci và Richard Flaste (Tại sao chúng ta lại làm những gì mình thường làm: tìm hiểu về động lực tự thân)
Những giới hạn của một xã hội hoạt động dựa trên kiểm soát, giải thích về nguồn gốc của những thí nghiệm mang tính bước ngoặc, đồng thời chỉ ra cách nâng cao sự tự chủ trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Tư duy loại I: "Những câu hỏi thường gặp: làm sao để tôi có thể khích lệ người khác học tập? làm việc? làm việc nhà? hay uống thuốc? - đều là những câu hỏi sai lầm. Vì chúng thể hiện rằng động lực là điều gì đó để hướng người khác làm chứ không phải nó là điều gì đó mà người ta vẫn làm".
5. Mindset: the new psychology of success - Carol Dweck (Lối tư duy: tâm lý mới về thành công). 
Con người có 2 lối tư duy:
+ "Tư duy cố định" tài năng và khả năng là điều không bao giờ thay đổi. Thách thức là một bài kiểm tra giá trị của mình.
+ Còn "Tư duy phát triển" tin rằng tài năng và khả năng của họ có thể tiếp tục phát triển. Thấy thách thức là cơ hội để trau dồi bản thân.
Tư duy loại I: trong sách này và website mindsetonline.com, Dweck đưa ra những bước giúp chuyển từ tư duy cố định sang tư duy phát triển.
6. Then we came to the end - Joshua Ferris (Rồi chúng ta đi tới kết thúc)
Một câu chuyện về những tác động suy đồi ở nơi làm việc loại X
7. Good work: when excellence and ethics meet - Howard Gardner, Mihaly Csikszentmihalyi và William Damon (Làm tốt công việc: Khi sự xuất sắc và đạo đức gặp nhau)
Để làm tốt công việc, bạn có thể cân nhắc 3 yếu tố: sứ mệnh nghề nghiệp của bạn, các tiêu chuẩn hay "các hoạt động tốt nhất" của nó, và đặc điểm nhận dạng của bạn
Tư duy loại I: "Bạn sẽ làm gì nếu thức dậy vào 1 buổi sáng và chợt sợ hãi khi nghĩ tới lúc đi làm, bởi vì những công việc thường nhật ở đó không còn thoả mãn các tiêu chí của bạn nữa". Lập nhóm hoặc diễn đàn với những người chung ngành nghề và khác nghề nhằm đưa tầm ảnh hưởng của bạn vươn xa hơn. Làm việc với những công ty hiện có nhằm khẳng định các giá trị nghề nghiệp của bạn hoặc phát triển các đường hướng mới. Giữ vững lập trường.
8. Outliers: The story of success - Malcolm Gladwell (Những kẻ xuất chúng: cái nhìn mới lạ về nguồn gốc của thành công)
Những người thành đạt nhất có thể đều có những lợi thế ẩn về văn hoá, thời điểm, đặc điểm dân số và sự may mắn.
Tư duy loại I: "chuyện kiếm được bao nhiêu tiền không giúp mang lại hạnh phúc cho chúng ta. Vấn đề là liệu công việc có làm chúng ta thoả mãn không".
9. Team of rivals: The political genius of Abraham Lincoln - Doris Kearns Goodwin (Nhóm của các đối thủ: thiên tài chính trị của Abraham Lincoln)
Một hình mẫu cư xử loại I của Abraham Lincoln. Ông làm việc cật lực để làm chủ lĩnh vực luật và chính trị. Ông trao cho các đối thủ mạnh nhất của mình sức mạnh và quyền tự chủ. Và ông xây dựng 1 phong cách lãnh đạo với gốc rễ là 1 mục tiêu cao cả - chấm dứt chế độ nô lệ và bảo vệ công đoàn.
Tư duy loại I: Các kỹ năng lãnh đạo loại I của Lincoln trong đó có:
+ Ông tự tin đến nỗi thu nhận các đối thủ giỏi hơn ở các lĩnh vực không phải thế mạnh của mình.
+ Ông thành tâm lắng nghe quan điểm của người khác, nhờ đó ông hình thành nên các quan điểm riêng đa chiều hơn.
+ Ông nhận công nếu xứng đáng, và cũng không hề ngại ngần khi nhận lỗi.
10. The amateurs: The story of four young men and their quest for an olympic gold medal - David Halberstam (Những gã a ma tơ: Câu chuyện về bốn chàng trai trẻ và hành trình tìm kiếm chiếc huy chương vàng Olympic.
Điều gì đã khiến 1 nhóm thanh niên âm thầm chịu đựng những đau đớn và mệt mỏi thể xác vì 1 môn thể thao không hứa hẹn sẽ mang lại cho họ tiền tài hay danh vọng? Cuốn sách hé lộ 1 cái nhìn về những sôi sục trong động lực tự thân.
Tư duy loại I: "Đi nhờ xe, mượn giường ngủ, và những bữa ăn gần như ăn xin của những thanh niên đói ngấu nghiến"
11. Punished by Reward: The trouble with gold stars, incentive plans, A'S, Praise, and other bribes - Alfie Kohn (Bị phần thưởng trừng phạt: rắc rối với các ngôi sao vàng, chế độ đãi ngộ, điểm A, lời khen ngợi, cùng nhiều món hối lộ khác)
Nội dung xoay quanh nhiều lĩnh vực ở trường học, công việc và đời sống cá nhân, qua đó tác giả giải thích những động lực ngoại vi và vẽ bức tranh hấp dẫn về 1 thế giới không có các động lực đó.
Tư duy loại I: "Phần thưởng có khích lệ con người không? Chắc chắn là có rồi. Chúng khích lệ họ lấy được phần thưởng".
12. Once a runner - John L. Parker, JR (Ngày xửa ngày xưa có 1 vận động viên điền kinh)
Cái nhìn thú vị về tâm lý học trong lĩnh vực chạy đường trường. Câu chuyện của 1 vận động viên chạy 1 dặm ở trường Quenton Cassidy, chúng ta biết được cái giá của sự làm chủ - và những hứng khởi có thể đem đến khi nó đã trở thành sự thật.
Tư duy loại I: "Anh ấy chạy không phải vì những lý do tôn giáo bí mật nào, mà để giành chiến thắng, để chạy thật nhanh. Nhanh hơn đối thủ và nhan hơn bản thân mình"
13. The war of art: Break through the blocks and win your inner creative battles - Steven Pressfield (Cuộc chiến nghệ thuật: phá vỡ các rào cản và chiến thắng trong các cuộc chiến sáng tạo trong bạn)
Một sự chiêm nghiệm thông thái về những vật cản trên con đường đi tới tự do sáng tạo của chúng ta. Một kế hoạch chiến trận tinh thần nhằm vượt qua những trở lực nổi lên khi chúng ta chuẩn bị làm điều gì đó lớn lao.
Tư duy loại I: "Có lẽ loài người chưa sẵn sàng đón nhận tự do. Bầu không khí tự do có lẽ quá cao quý, và chúng ta chưa xứng đáng với nó. Những ai không chịu quản lý mình sẽ phải tìm những người chủ khác để quản lý họ".
14. Maverick: The success story behind the world's most unusual workplace - Ricardo Samler (Kẻ ngoại đạo: Câu chuyện thành công đằng sau nơi làm việc bất thường nhất thế giới)
Sa thải phần lớn đội ngũ điều hành của công ty Semco (Brazil), xoá bỏ hệ thống chức danh, cho phép 3000 nhân viên công ty lập giờ làm riêng, mỗi người đều có quyền biểu quyết trong những quyết định quan trọng và thậm chí là để một số nhân viên tự quyết mức lương của mình. Kết quả là Semco tăng 20%/năm trong suốt 2 thập kỷ.
Tư duy loại I: "Tôi muốn mỗi người ở Semco đều biết tự lập. Công ty này được tổ chức - chà, có lẽ cái từ "tổ chức" không đúng lắm trong trường hợp của chúng tôi - không phải để phụ thuốc quá nhiều vào cá nhân nào, đặc biệt là tôi. Tôi có đó là điều tự hào khi trở về sau những chuyến đi dài, văn phòng của tôi đã bị dỡ bỏ đi - và cứ sau mỗi chuyến đi như thế, nó lại nhỏ đi một chút.
15. The Fifth Discipline: The art and practice of the learning organization - Peter M. Senge (Quy tắc vàng thứ năm: nghệ thuật và việc thực hành tổ chức học tập)
Giới thiệu về "các tổ chức học hỏi". Đưa ra 1 người bạn đồng hành thông minh cho hành vi loại I.
Tư duy loại I: "Những người có mức độ tự chủ cá nhân cao thường sẽ có khả năng thực hiện được các hoạt động có ý nghĩa nhất đối với họ - thật ra, họ đối xử với cuộc sống của mình như thể một nghệ sĩ đối với tác phậm nghệ thuật. Họ làm thế bằng cách cống hiến bản thân cho quá trình học tập suốt đời".

JIM COLLINS: "Dành công sức để khích lệ người khác thường là việc làm mất thời gian. Nếu tìm đúng người, họ sẽ biết tự tạo động lực cho mình. Khi đó, câu hỏi thực sự sẽ là: Chúng ta quản lý ra sao để không làm những con người đó mất đi động lực của họ?" - Từ tốt đến vĩ đại.
CALI RESSLER VÀ JODY THOMPSON: Tư tưởng: Môi trường chỉ tập trung vào kết quả làm việc.
"Nhân viên ở tất cả các cấp dừng làm bất kỳ hoạt động gì gây lãng phí thời gian của bản thân họ, khách hàng và công ty.
Nhân viên được tự do làm việc theo bất kỳ cách nào họ muốn.
Mỗi cuộc họp đều không mang tính chất bắt buộc nhân viên phải tham gia
Không có lịch trình công việc"
GARY HAMEL: tư tưởng quản lý là một công nghệ lỗi thời. Với sách Tương lai của quản trị (The Future of Management)
"Các nhân viên của chúng ta được yêu cầu công hiến để phục vụ mục đích gì, và phục vụ lợi ích của ai? Chúng ta có cam kết đi theo 1 mục đích thật sự xứng đáng với sự chủ động, sáng tạo và đam mê của họ không?"

Kế hoạch tập thể dục loại I: 4 mẹo đạt tới (và duy trì) động lực luyện tập
Việc chạy bộ có tất cả những yếu tố của hành vi loại I. Nó là hoạt động tự chủ. Nó cho phép bạn tìm kiếm sự làm chủ. Và những người duy trì hoạt động này là những người thích chạy và hướng tới những mục tiêu cao cả hơn - thử thách các giới hạn của mình hoặc để duy trì sức khoẻ. Nhằm giúp bạn thổi hồn động lực tự thân vào văn phòng làm việc hay lớp học, cũng như các lĩnh vực khác trong đời sống của bạn.
1. Tự xây dựng các mục tiêu cho bản thân: đừng chấp nhận những kế hoạch đã được tiêu chuẩn hoá được mọi người làm theo. Hãy tạo ra kế hoạch phù hợp với nhu cầu và tình trạng thể chất của bạn. Hãy đưa ra mục tiêu đúng đắn. Những người muốn giảm cân vì những lý do ngoại vi như để dự tiệc cưới hay trông thon hơn trong buổi họp lớp, thường đạt được các mục tiêu đã đề ra. Nhưng rồi sau khi sự kiện mục tiêu đó qua đi, họ lại tăng cân nhanh chóng. Còn những người theo đuổi các mục tiêu mang tính tự thân như giảm cân để khoẻ mạnh, cảm thấy vui vẻ hay duy trì sức khoẻ chăm nom gia đình - thường tiến bộ chậm hơn ở giai đoạn đầu, nhưng lại đạt được nhiều kết quả tốt đẹp hơn nếu xét về lâu dài.
2. Vứt bỏ những hoạt động buồn tẻ: hãy tìm những hình thức tập luyện khác mà bạn thích - tức những hoạt động giữ gìn thể lực có thể tạo ra những giờ phút thăng hoa của sự tập trung sâu. Hãy tụ tập bạn bè chơi tennis, bóng rổ, đi dạo công viên, tham gia các câu lạc bộ nghiệp dư, nhảy hay chơi đùa với con cái. Hãy biến công việc thành cuộc chơi.
3. Luôn tâm niệm về sự làm chủ. Tiến bộ ở lĩnh vực nào đó là một nguồn năng lượng tái sinh tuyệt vời. Vì thế, hãy chọn lấy 1 hoạt động mà mình có thể trau dồi được. Liên tục nâng cao mức độ khó khăn của những nhiệm vụ mình đảm nhận. Đặt ra những thử thách lơn hơn cho bản thân theo thời gian, bạn có thể làm mới nguồn năng lượng đó và duy trì động lực cho mình.
4. Tự tưởng thưởng 1 cách đúng đắn. Nếu bạn thực sự đang phải đấu tranh với bản thân, hãy thử thí nghiệm với Stickk (www.stickk.com), một trang web cho bạn công khai nêu lên những mục tiêu mình phải theo đuổi, và nếu bạn thất bại, bạn phải đưa tiền lại cho người khác - có thể là 1 người bạn, một tổ chức từ thiện hoặc "chống từ thiện".
Cân nhắc phần thưởng tránh đưa ra 1 phần thưởng có điều kiện.
- - - - - o 0 o - - - - - 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây